Náo Nức Hội Trăng Rằm
Hồ Trường An
Chương Hai
Bình Nguyên Lộc
Tổng Quan Văn
Chương Vùng Đất Đồng Nai
Đất đai man rợ, rừng rú hoang vu càng làm cho những cây bút văn chương thẽm
khởi hứng. Và từ đó, những tác phẩm viết về quê hương đất nước của họ bỗng sáng
lên cảm hứng kỳ diệu bất ngờ, khả năng sáng tác của họ thêm sắc thái lộng lẫy
tinh khôi. Vào thời Phục Hưng, dưới triều đại Đệ Nhị Đế Quốc của Hoàng đế
Nã-phá-luân Đệ Tam, nữ sĩ George Sand là ngôi tinh đẩu rực rỡ trong văn giới qua
các cuốn tiểu thuyết đồng quê như ''La Petite Fadette'', ''La Mare Au Diable'',
''François Le Champi''... Tuy nhiên quê hương Nohant thuộc vùng Perry của nữ sĩ
chỉ là một vùng quê đầy huyền thoại thần bí và truyền kỳ ẩn mật mà không phải
là vùng đất mới khai phá trước khi bà mở mắt chào đời. Nhưng vùng Cà Mau mà Sơn
Nam đã có một thời gian cư ngụ, vùng Tân Uyên Đất Bái là nơi sinh quán của Bình
Nguyên Lộc trái lại có nhiều hoang địa, chưa có gót chân dân khai phá đặt đến.
Những nơi đó dĩ nhiên có nhiều cái huyền bí thật quyến rũ, nhiều nếp sống lọt xa
tầm ánh sáng văn minh. Chúng đem lại biết bao vận sự kỳ thú cho hai nhà danh sĩ
đất nước Nam Kỳ kia, để gây cho họ sự nghiệp văn chương đồ sộ nguy nga.
Văn chương của anh Sơn Nam lẫn của anh Bình Nguyên Lộc hào hứng tuyệt vời, vạm
vỡ sức sống của tiền nhân trong cuộc khai hoang lập ấp và bừng bừng khí phách và
anh linh của dân tộc thời xa xưa. Hai anh đẩy lui nữ sĩ Georce Sand vào lãnh vực
nhỏ trong bóng trăng thơ mộng và ánh nắng trữ tình của tiểu thuyết tâm lý ái
tình dùng đất quê làm bối cảnh. Còn hai nhà văn đồng bào đồng chủng của chúng ta
trái lại biến ngòi bút mình thành lưỡi đao thiêng hay thanh kiếm thần để vạch
cho độc giả đô thị một chân trời tráng lệ bao la trải dài tới miền Cực Nam của
đất nước.
Văn chương biểu dương bản sắc thuần túy của Bình Nguyên Lộc là những truyện ngắn
được đưa vào các tập truyện ''Nhốt Gió'', ''Ký Thác'', ''Mưa Thu Nhớ Tằm'',
''Cuống Rún Chưa Lìa''... Đó là những tác phẩm chắt lọc cái tinh hoa quý giá của
thần trí sáng tạo của anh. Văn chương trong đó nồng nàn tình yêu quê cha đất
mẹ. Đôi khi cái nồng nàn đó lên tới mức độ sôi nổi nên anh không làm chủ được
ngòi bút của mình. Do đó văn chương ấy trở nên bộc tuệch, trống trải, cường
điệu, bộc lộ cá tính Nam Kỳ. Cái bộc lộ ấy chưa chắc là cái khuyết điểm hay
nhược điểm gì. Trái lại, nó làm cho sự diễn đạt tình ý của anh thêm minh bạch,
thêm tươi rói và cực kỳ quyến rũ. Anh để mặc cho tâm sự mình phơi bày hở hang,
trần truồng, không ngụy trang, không úp mở. Độc giả đa số không cần ở văn
chương anh cái mánh khóe tiềm ẩn hay cái phong niêm tinh xảo để làm cho sự diễn
tả được hàm súc và ý nhị. Họ chỉ cần tấm lòng tươi son bền sắt của anh đối với
quê hương của anh. Có như thế, họ mới vùi dưới lớp tro tàn của thời gian cái
tình cảm nồng cháy và đượm đà của họ như mẻ than ngún lửa hồng không bao giờ tắt
đối với nơi chôn nhau cắt rún của họ. Tấm lòng anh cũng có thể tượng trưng qua
những loại cổ thụ chẳng hạn như cây đa, cây gỏ, cây bồ đề, cây thùy dương, cây
hoàng lan cắm rể sâu xuống mảnh đất để giao tiếp với lớp nước trong mát bất
tuyệt để cành lá chúng mãi mãi tươi xanh dù gặp cơn nắng lũ đi nữa. Ơi là mảnh
đất đã từng chứng kiến cái thời kỳ chúng chỉ là mầm cây nhỏ chưa bén đất!
Truyện ngắn viết về tình yêu đất trong sự nghiệp văn chương và trong cuộc bút
trình của Bình Nguyên Lộc nổi bật lên, như trên nền trời hồng ánh bình minh in
rõ nét rặng núi duyên dáng với sắc thúy màu lam êm dịu.
Đây là tâm sự người thiếu phụ lấy chồng Pháp về thăm quê hương vào dịp cận Tết
trong truyện ngắn ''Chiêu Hồn Nước'' trong tập truyện ''Cuống Rún Chưa
lìa'' do Văn Nghệ
(California, Hoa Kỳ) tái bản. Về Sài Gòn sau bao năm lìa quê theo chồng dị
chủng, nàng chẳng còn người thân thuộc nào nên nàng mướn một căn phòng ở khách
sạn để dọn bàn thờ và tranh ảnh đón xuân. Tuy nhiên, vào tối hăm chín tháng
chạp, nàng gặp một nhà thơ để có dịp phơi bày nỗi niềm của mình:
... Năm đó em học ban Trung học Pháp Việt ở Sài Gòn.
nhơn kỳ nghỉ hè, em về quê, một làng hẻo lánh kia, rồi bị một nhóm quân nhân
Pháp hiếp.
Sợ
gia đình em thưa kiện, chúng nó phao vu em rồi bắt em đi. Ra tỉnh bị giam một
thời gian thì em được thả, nhưng có còn gì nữa đâu mà quay về. Vừa lúc ấy thì
một sĩ quan Pháp phải lòng em và bao em.
Em
bằng lòng theo nó, vì cũng chẳng thiết làm lại cuộc đời, và một năm sau, đạo
quân viễn chinh rt lui, em theo y về bên ấy, và được y cưới luôn, rồi em xin vào
Pháp tịch.
Hai năm đầu, em vui với được vài cảnh lạ, nhưng khi hay tin cha mẹ em qua đời,
em bỗng chạnh nhớ quê nhà.
Ban đầu chỉ là nỗi nhớ nhung nhè nhẹ thôi. Nhưng càng ngày lòng sầu xứ càng sâu
đậm, em không chịu nổi nữa nên vào cuối năm 1958 ấy, em có dư chút ít, xin thông
hành với tư cách du khách về đây, cũng là cuối tháng chạp như năm nay.
Không thể nào mà anh tưởng tượng nổi sự thèm khát quê hương của một kẻ vĩnh viễn
không hy vọng trở về như em. Thèm như là thèm món cá nướng chấm mắm nẹm, thèm
hương bưởi, thèm tiếng chuông chùa ngân nga vào buổi hoàng hôn, thèm cảnh cấy
mạ vào đầu mùa lúa. Thèm chết đi đuợc là vào lúc gần Tết, tức là khoảng đầu năm
dương lịch. Nhớ Tết như nhớ nhà, nhớ nước, bởi vì Tết là sum họp gia đình.
(''Chiêu Hồn Nước'', trang 48)
Tình yêu quê hương của Bình Nguyên Lộc càng rõ rệt hơn, như vầng trăng rằm sáng
nguy nga treo trên nền trời đêm màu thúy lam tối đậm. Xin đọc tâm sự một bà già
nhà quê vì ly loạn nên phải ra sinh sống ở tỉnh thành, phải xài bếp dầu để nấu
nướng. Đây là đoạn trích trong cuộc mạn đàm giữa bà cùng con gái, chang rể và
con bé cháu ngoại của bà :
...rồi má tôi chậm rãi tuyên truyền cho tôi nghe:
--
Nè, củi mỗi thứ mỗi khác đó nghe. Cùi bắp phơi khô để làm củi, thì ngọn lửa xanh
như lửa đèn cồn. Vỏ măng cụt phơi khô, chụm nó nổ lách tách y như than Cà mau.
Củi nhánh sao chết rụng trên vệ đường, nó cháy rồi tỏa ra cái mùi thời tiết gió
bấc về. Còn mầy biết củi gì thơm ngát hay không? Đó là dăm tiện.
--
Dâm tiện là gì má? Chồng tôi hỏi.
--
Muốn làm những vật dụng tròn như kiểu chơn bàn, chơn ghế kia chẳng hạn, thợ tiện
họ đưa cây vào máy tiện, cây nó mới tròn trịa đều đặn được, chớ thợ mộc tài nào
mà trau giồi cho nó tròn. Các món tiện, luôn luôn là vật dụng quí mến nên được
làm bằng thứ gỗ quí: trắc, cẩm lai, huỳnh đàn, cho nên dăm tiện nó thơm dữ lắm,
thơm cái mùi hỗn hợp đủ loại gỗ mắc tiền. Loa củi đã thơm mà hình thù nó cũng
hay lắm. Nó cháy lên, mình thấy được, chớ vô hình như loa đèn dầu. Nhìn ngọn loa
cũng ngộ, nhìn màu loa còn ngộ hơn...
(''Loa Tết'', các trang 66, 67)
Về
bút pháp, Bình Nguyên Lộc dùng phấn nội đồng bình đạm để làm món trang sức. Còn
về ngôn ngữ, anh áp dụng ngôn ngữ vùng miền Nam Kỳ Lục Tỉnh tối đa. Thỉnh
thoảng, anh đệm nhưng chữ uyên bác nhưng thông dụng vào ngôn ngữ mộc mạc căn bản
dành cho khẩu khí và ngôn ngữ của thị dân, còn thứ ngôn ngữ thuần túy quê rít
quê rang thì dành cho thôn dân. Trong khi đó, Lê Xuyên gán vào miệng cho các
nhân vật đủ mọi lứa tuổi (nam phụ lão ấu), đủ mọi tánh nết (dữ, hiền, ôn nhu,
kiêu mạn, lẳng lơ...), hoặc đủ thành phần trong xã hội (hạng lương gia, hạng dân
tứ xứ, hạng trưởng giả, hạng đàng điếm) cái ngôn ngữ tràn đìa ngữ pháp, thổ âm,
tiếng lóng đặc biệt Nam Kỳ. Cả hai trái hẳn cách sáng tạo ngôn ngữ của Nhất
Hạnh: Đức Phật hay một vị Hiền Thánh Tăng nào hoặc một đạo sư nào, một bậc tể
quan hay một kẻ lê dân nào... một khi chui vào quyển ''Đường Xưa Mây Trắng''
của đương sự là họ trổi lời ỏn ẻn của nàng sủng phi dùng để nhõng nhẽo với đấng
quân vương. Cái ông Thiền sư này không chịu nhập vào vai trò qua cách ăn nói.
Đương sự không bao giờ thoát khỏi cái lưới làm dáng làm duyên trong khi viết đối
thoại trong văn chương.
Ở
bài viết về nhà văn Bình Nguyên Lộc cho quyển ''Náo Nức Hội Trăng Rằm'' này tôi
xin trích bài ''Tổng Quan Về Sự Nghiệp Văn Chương Của Bình Nguyên Lộc'' của tôi
đã đăng trên nguyệt san Văn Học số 18 (tháng 7 năm 1987) và dùng cái tựa: ''Bình
Nguyên Lộc, Tổng Quan Văn Chương Vùng Đất Đồng Nai'' cho toàn bài. Tuy nhiên tôi
nhuận sắc và gia giảm mắm muối vào một vài chỗ theo nhu cầu suy tư và cảm nghĩ
hiện thời của tôi.
* *
*
Nhà văn Bình Nguyên Lộc chết vào ngày 7-3-1987, mãi một tuần sau Nguyễn Hữu
Nghĩa
ở
Gia-nã-đại và chị Vi Khuê cùng anh Cho Bá Anh
ở
Hoa-thịnh-đốn mới cho tôi hay. Tôi thành thật tiếc thương anh cũng như tôi giận
cho cái số phận đen đủi của mình. Tôi muốn hỏi anh về tin tức của các nhà thơ
gốc người Nam đã từng viết văn làm báo với anh, hiện còn kẹt a quê nhà như các
anh Dương Tro
La (nhà văn), Trương Đạm Thủy (nhà văn), Hà Liên Tử (nhà thơ), Anh Tuyến (nhà
thơ), Anh Việt Thanh (nhà thơ). Những nhà văn, nhà thơ đó vào thập niên 50, tôi
đã từng mến mộ, dù văn tài, thi tài của họ chưa đủ sức thoát ra khỏi sự thờ ơ
của độc giả để đằng vân vào văn đàn, thi đàn. Trên Văn Học số 15 (tháng 4/1987);
a truyện ngắn ''Chiêu Hồn Nước''), Bình Nguyên Lộc có trích vài đoạn thơ của Hà
Liên To, có lẽ thơ của Hà tiên sinh không hợp thời, không hợp sa thích với khách
yêu thơ nữa, nhưng đó là tiếng vọng thời mới lớn của tôi, vào năm 1952, 1953 thì
phải. Chưa kịp hỏi thì anh Lộc đã từ trần!
Tôi đọc văn của Bình Nguyên Lộc từ năm 1948, khi tôi vào ngưỡng cửa
trung học tỉnh Vĩnh Long (trường Collège de Vinh Long, dạy chương trình Pháp).
Rồi vào năm 1956, tôi đọc một vài truyện ngắn của anh trên tạp san Văn Hóa Ngày
Nay do Nhất Linh chủ trương như ''Bàn Tay Sáu Ngón'', ''Hồn Ma Cũ''...
Giữa lúc tôi mê xem truyện của bà Tùng Long, bà Tú Hoa, Dương Hà, Ngọc Sơn,
Thanh Thủy, Trọng Nguyên, Nguyễn Ngọc Mẫn thì truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc
cho tôi một vài ý niệm mới: thế nào là một tác phẩm nghệ thuật? Người Nam Kỳ thua
đó viết được truyện dài, truyện ngắn, nhưng chưa hề biết viết văn, họ chỉ biêt
kể chuyện. Trừ Bình Nguyên Lộc, chỉ có Phi Vân là có thể viết truyện ngắn có
tính chất nghệ thuật mà thôi: đó là tập truyện ''Đồng Quê''. Sau ''Đồng Quê'',
Phi Vân viết thêm vài truyện dài như ''Cô Gái Quê'', ''Tình Quê'' lại... hỏng.
Đó chỉ là những cuốn tiểu thuyết dùng để giải trí mà thôi.
Cũng thế, Bình Nguyên Lộc rất thành công về truyện ngắn hơn là truyện dài.
Chính
ở
truyện ngắn, anh có thể biểu duơng văn tài của anh. Chỉ có truyện ngắn mới tạo
cho anh một chỗ đứng vững chắc và sáng sủa trên văn đàn. Chính nhờ âm vang và
ảnh hưang tốt đẹp của tập truyện ''Nhốt Gió'',
ở
vài truyện ngắn đăng trên Văn Hóa Ngày Nay, độc giả mới ưu ái anh, sẵn sàng đón
tiếp nồng nhiệt quyển truyện dài ''Đò Dọc'' ra đời vào năm 1959 và cuốn
truyện dài ''Gieo Gió Gặt Bão'' ra đời vào năm 1960.
Tôi đã từng theo dõi hành trình các tác giả gốc người miền Nam trước Bình Nguyên
Lộc sát nút. Họ kể truyện dài, truyện ngắn phom phom, trơn láng, duyên dáng
tuyệt vời, quyến rũ rất nồng đượm. Kể truyện là thuật lại sự việc, chứ không
dựng được một cảnh sống. Người kể truyện chỉ nói trực tiếp sự việc, thí dụ: Buổi
sáng, cô Lan đi chợ. Người viết văn thì không thể luời biếng như vậy. Ông ta
dựng ngay cái khung cảnh buổi sáng từ nhà cô Lan đến chợ. Ông ta còn tả chân
dung cô Lan, dáng điệu, co chỉ cô Lan và ông ta lại còn tả cảm nghĩ của cô Lan
về buổi sáng, về khung cảnh chợ nữa. Nhà văn là kẻ đi chậm hơn người kể chuyện
rất nhiều. Ông ta là kẻ rị mọ cũng như người thợ kim hoàn trong việc chạm trổ
các món nữ trang. Ông ta dựng cảnh sống chưa đủ, còn phân tách tâm trạng nhân
vật song song với công trình phân tích sự việc. Chính
ở
''Đò Dọc'', độc giả miền Nam đã thấy Bình Nguyên Lộc đã có viết văn. Anh viết
lưu loát, ngon ơ cũng như các bà Tú Hoa, Tùng Long, Lan Phương cùng các anh
Việt Quang, Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Trọng Nguyên, Dương Hà, Nguyễn Ngọc Mẫn, Ngọc
Linh, Sĩ Trung, kể chuyện tuồn tuột, trơn như mỡ, láng như dầu.
Đã
27 năm qua, trong ký ức tôi như in rõ nét cảnh anh chàng Long và cô Hồng trong
''Đò Dọc'' hẹn hò nhau, ngắm sao băng trên nền trời đêm để cùng thề ước nhau. Và
tác giả còn tả tỉ mỉ hơn lúc cô gái tên Quá cầm mấy viên thuốc ngủ để quyên
sinh. Anh phân tích tâm trạng cô ta chi li sắc bén... Lúc đó, tôi còn là học
sinh tỉnh lẻ. ''Đò Dọc'' là cảnh sống cô đơn của bốn chị em Hương, Hồng, Hoa,
Quá tại một vùng noa chợ noa quê nằm bên quốc lộ từ Sài Gòn xuôi về Biên Hoà.
Vậy mà nhờ tai nạn xe cộ của một chàng tên Long, trừ cô Hương yên phận gái già
ra, ba chị em kia bắt đầu yêu đương liều lĩnh, tuy sự liều lĩnh kia vẫn ngoan
ngoãn nằm yên trong khuôn nếp lễ giáo... Cảnh ghen tương, ẩu đả, thất vọng xảy
ra sau lưng ông cha bà mẹ cho tới khi cô Út tên Quá quyên sinh và được cứu sống.
Sau hết, truyện kết thúc bằng ba cuộc hôn nhân của ba cô Hồng, Hoa, Quá với 3
cậu thanh niên thuộc giai cấp trung lưu trong đó có chàng Long. Chàng vốn là nạn
nhân của tai nạn xe cộ, đã từng gây sóng gió trong lòng ba cô em của cô Hương...
Nhưng sau rốt, chàng kết hôn với cô Hồng, kẻ mà chàng yêu đương chân thành. Tác
giả chỉ chừa cô chị lớn cô Hương) để cô a lại nhà săn sóc cha mẹ.
Tiếp theo truyện ''Đò Dọc'' là truyện ''Gieo Gió Gặt Bão'' cũng chỉ là
cuốn tiểu thuyết tâm lý ái tình, cảnh chung sống của bộ ba, một ông hai bà...
Cuốn đó không thể thắp sáng văn tài Bình Nguyên Lộc được. Phải đợi tới tập
truyện ''Ký Thác'' với hai truyện ''Rừng Mắm, ''Ba Con Cáo'' mới
làm rúng động văn giới. Truyện ngắn ''Rừng Mắm'' rất sâu sắc trong công việc
nêu cao tình đất, chẳng những ma cho đất nước một chiều dài thênh thang mà còn
nuôi ngọn loa hy vọng về tương lai huy hoàng của những kẻ khai hoang khẩn đất.
Truyện ''Ba Con Cáo'' thắp sáng thiên lương và tình người, gây niềm tin yêu cho
độc giả về khía cạnh tích cực và tốt đẹp của con người dù xã hội và hoàn cảnh
đẩy đưa nhân vật vào hành vi phản phúc, dối trá, lọc lừa.
''Bóng Ai Ngoài Song Cửa''
là cuốn tiểu thuyết phỏng theo ba va kịch ''Marius'', ''Fanny'' và ''César''
của Marcel Pagnol. ''Xô Ngã Bức Tường Rêu'' là cuốn đả phá giai cấp và đề
cao tình yêu. ''Uống Lộn Thuốc Tiên'' là cuốn tiểu thuyết mô tả cuộc sống
lứa đôi giữa người vợ trẻ măng và người chồng luống tuổi, qua bao chứng nghiệm
đau thương cả hai yêu nhau chân thành. ''Hoa Hậu Bồ Đào'' mô tả cô gái
đẹp lăn xả vào cuộc đời phồn tạp quá sớm.
Thành công về truyện ngắn (phương diện nghệ thuật), Bình Nguyên Lộc lại cho
trình làng tập truyện ''Tâm Trạng Hồng''. Ở đây nồng độ nghệ thuật bị pha
loãng vì đây là chỉ là những chuyện hài hước qua những truyền thuyết của kẻ trà
dư tou hậu hoặc của những bà ngồi lê đôi mách, xen vào đó là những vở
hài kịch ngắn, chứng tỏ khiếu trào lộng bén nhạy nhưng không thâm thúy của tác
giả. Lại nữa, anh không gây một dư âm, một chút suy nghĩ nào cho độc giả sau khi
họ xếp quyển sách ấy lại.
Những truyện dài của Bình Nguyên Lộc hết 99% đều đăng theo thể thức từng kỳ
(feuilleton) trước khi đăng thành sách. Khi xuất hiện từng kỳ trên báo, tác giả
không tránh khỏi theo thói viết đối thoại cù nhây cù nhằng, tức là anh kéo dài
lời ông qua và lời bà lại một cách thừa thãi và vô bổ. Khi in thành sách, anh
cắt xén bớt những câu đối thoại vô thưang vô phạt lẩn những câu nhì nhằng. Nhưng
quyển sách vẫn không sạch sẽ gọn gàng, vẫn như mảnh đất hãy còn những bụi hoang
đầy cành lá rườm rà, những cỏ dại bụi gai, không để cho những hoa thơm ý tuang
không có thêm chỗ đất trống để trổ sắc tưng bừng hơn và tỏa hương ngào ngạt hơn.
Những Ngọc Linh, Sĩ Trung, Dương Trử
La đã theo bước chân anh thì chẳng nói làm gì vì họ là những cây bút đứng bên
ngoài văn học sử.
Nhưng Túy Hồng, Thụy Vũ, Văn Quang, Thanh Nam cũng làm những gì Bình Nguyên Lộc
đã làm thì họ hy sinh quá nhiều nghệ thuật tính. Càng kéo dài đối thoại, họ càng
pha lợt pha loãng cái phẩm chất của quyển sách. Nhưng Lê Xuyên thì khác, càng
kéo dài cuộc đối thoại, anh càng thắp sáng cái mãnh lực mầu nhiệm ngôn ngữ đất
Nam Kỳ Lục Tỉnh, càng khơi bừng bừng ngọn loa thiêng của những kẻ yêu ngôn ngữ
trên đất nước quê hương được khai phá do cuộc Nam Tiến của dân tộc.
Viết fauilleton là phải nhắm vào tâm lý và thị hiếu của quần chúng. Giới bình
dân Nam Kỳ vốn thích chuyện nhơn quả, chuyện oán trả ơn đền, chuyện ngồi lê đôi
mách, chuyện hài hước theo kiểu hề giễu trên sân khấu ca kịch cải lương, chuyện
tôn vương hòa hiệp của các nhân vật chánh diện sau bao phen hoạn nạn tai ương.
Vì vậy, Bình Nguyên Lộc có hai loại độc giả: nhóm thức giả có kiến thức trên
trung bình và nhóm độc giả thuộc giới bình dân dùng văn chương để giải trí. Cả
hai loại độc giả đều ủng hộ truyện dài của anh hết mình.
Tôi cần nhấn mạnh kẻo quí vị độc giả hiểu lầm. Không phải mỗi truyện dài của
Bình Nguyên Lộc hoàn toàn là truyện giải trí, loại mua vui cũng được một vài
trống canh đâu. Anh viết truyện dài với tất cả ý thức của một nhà văn chân chính
song song với việc nuông chiều thị hiếu của quần chúng độc giả. Đó là điều khó
khăn nhất cho người cầm bút. Vì sao? Thị hiếu quần chúng hầu như không đi đôi
với nghệ thuật. Viết mà chú trọng nhiều về nhân sinh quan, về tâm lý nhân vật,
luôn cả nếu tác giả tả cảnh, ta người, tả sự việc quá chi ly tỉ mẩn thì đương sự
sẽ làm cho độc giả không có sa tri phong phú về văn chương đâm ra mệt hốc hác
khờ khạo. Còn viết ướt át, lâm ly, phi thực tế để nâng niu giấc mơ lố bịch hoặc
o bế hoài bão cà chớn của giới độc giả hoang tư?ng ? tầng lớp hạ lưu trong xã
hội tức là tác giả nếu không cuỡng dâm nghệ thuật thì cũng xử
lăng trì ngòi bút của mình không chút xót xa. Vậy mà Bình Nguyên Lộc vẫn nắm
vững lối viêt đầy nghệ thuật tính, vẫn chiều theo khiếu thư?ng ngoạn của độc giả
để tên tuổi mình vẫn vừa sáng vặng vặc trên văn đàn vừa đi sâu vào quãng đại
quần chúng.Trong bán thập niên cuối của thập niên 50 và trong suốt thập niên 60.
Bình Nguyên Lộc là một nhà văn ''populaire'' (phổ thông) nhất. Đừng ai đỏng đảnh
cho rằng những nhà văn ''populaire'' là nhà văn nếu không thuộc loại viết tiểu
thuyết ba xu (như loai tiểu thuyết Harlequin) thì cũng là thứ nhà văn xoàng
xĩnh, tài năng chai cứng và sượng ngắt. Điều nầy hoàn toàn không đúng với Bình
Nguyên Lộc, nhất là với nhà văn Georges Simenon của nền văn chương nước Pháp.
Ông này đã cho xuất bản trên 400 tác phẩm, đa số là loại trinh thám (những cuộc
điều tra án mạng của ông Cò Maigret). Nhưng bên số lượng phồn thịnh của tiểu
thuyết trinh thám thuộc loại siêu cấp đó, ông ta vẫn viết những tác phẩm văn
chương, thí dụ như cuốn tiểu thuyết tâm lý ''Chỉ Là Những Cây Hạnh Đào'' (''Il
n'y avait que les noisetiers''). Đã đành Bình Nguyên Lộc viết truyện ngắn cho
những người sành điệu văn chương, nhưng anh đâu phải viết truyện dài chỉ dành
riêng biệt cho dành cho giới bình dân? Truyện dài của anh đã dựng được những
cảnh sống (hoạt cảnh, phong cảnh, cảnh ngộ) lại còn vẽ được những nhân vật sống
thực, và hơn nữa tác phẩm truyện dài của anh còn chứa đựng nhiều nhân sinh quan
sắc sảo, rất cận nhân tình. Ngòi bút anh vì chiều theo độc giả bình dân cho nên
trong các truyện dài của anh hầu như không có bối cảnh đồng quê, không có những
nhân vật thôn dân, mà lại có khung cảnh thị thành, khung cảnh noa chợ noa quê
với các thị dân từ bực trung lưu tra lên. Giới độc giả bình dân lam lũ vốn nhàm
chán cảnh nghèo hèn của họ. Đọc quyển sách có khung cảnh đồng quê, có khung cảnh
xóm chòi lá vách đất với những nhân vật cày sâu cuốc bẳm hay các nhân vật mua
thúng bán bưng thì họ đâm ra nản lòng vì họ phải nhìn sâu vào hoàn cảnh sẫm buồn
của họ. Còn khi đi xem hát bội hay hát Hồ Quảng, họ cốt ý muốn được xem tuồng
tích có cảnh trí huy hoàng với lâu đài tráng lệ, cung điện nguy nga, có y quan
lộng lẫy, có các nhân vật quý tộc như hoàng đế vương hầu, hoàng hậu quý phi, tể
quan khanh tướng, công nương quận chúa... Họ đâu muốn cảnh đời hiện tại của họ
hiện rõ trên trang sách phơi ma hay được dựng trên sàn gỗ sân khấu khi bức màn
nhung chẻ đôi và vén ra. Bình Nguyện Lộc khi viết truyện dài biết đưa họ lạc vào
cảnh giàu sang của giới thượng lưu hay cảnh đầm ấm thoải mái của giới trung lưu
được ánh sáng văn minh soi đến, nhưng đáng quý nhất là anh nếu không viết được
truyện dài xuất sắc thì cũng giữ cho cái phẩm chất của chúng vào bậc trung, chớ
không để chúng rớt xuống loại tiểu thuyết ba xu hạ cấp.
Bên cạnh những truyện dài ''Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương'', '' Nhện
Chờ Mối Ai'',
“Trâm
Nhớ Ngàn Thương”
(Trâm
chớ không phải Trăm,
ở
đây cô Trâm và cậu Ngàn thương nhớ nhau), Bình Nguyên Lộc viết một truyện dài
thuộc về bịnh ly hồn chứng (l'amnésie) mô tả chuyện một người bị tai nạn xe hơi
quên hẳn quá khứ trong đó có gia đình mình. Anh ta xây dựng một cuộc đời khác,
có vợ con khác. Rồi một tai nạn khác xảy đến: anh ta bị một kẻ cướp đập vào đầu
một cú đau điếng. Anh ta vụt nhớ lại quá khứ cũ, gia đình cũ nên tìm về vợ con
cũ. Họ đều tưang anh đã chết trong tai nạn xe hơi hồi trên 20 năm trước; người
vợ trước đã đi lấy chồng khác, các con dòng truớc đã trưang thành. Họ nhìn anh
ta bỡ ngỡ xa lạ, không thể cùng anh ta ráp lại những mảnh tan vỡ cũ để tái lập
một gia đình đấm ấm và nguyên vẹn như xưa. Sau cùng, anh ta tra về gia đình hiện
tại, sống trong cảnh hạnh phúc hiện tại. Truyện dài nầy có vẻ đặc sắc hơn mọi
truyện dài khác.
Bình Nguyên Lộc trong những năm 1965, 1966, 1967 cộng tác với những tạp san văn
nghệ đứng đắn trong đó có tạp san Văn (do Nguyễn Đnh Vượng làm chủ nhiệm, do
Trần Phong Giao rồi tới Mai Thảo làm chủ bút) bằng những truyện ngắn mà anh viết
cho anh để hoài niệm quê hương, để sống trong tình yêu đất. Trên tạp san Hương
Quê, truyện ngắn của anh đưa độc giả tra về từng vùng quê, từng cảnh ngộ dân quê
một cách thích thú... Những truyện ngắn đó đuợc anh lần lượt đưa vào các tập
truyện ''Mưa Thu Nhớ Tằm'', ''Tình Đất'' và ''Cuống Rún Chưa Lìa''.
Truyện dài của Bình Nguyên Lộc gặt thêm một thành công khác. Vào năm 1972, điện
ảnh gia Lê Dân chọn truyện ''Một Nàng Hai Chàng'' của anh để quay thành
phim ''Hồng Yến'' với các tài to Kiều Chinh, Tâm Phan và Trần Quang. Nhưng điều
đó chưa gây tiếng vang inh ỏi và sâu rộng trong văn giới bằng cuốn phóng sự của
anh nhan đề ''Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố Của Gã Bình Nguyên Lộc''.
Anh đã đổi thực đơn cho độc giả vào năm 1966, nhưng vẫn tiếp tục viết
feuilleton. Mãi đấn năm 1973, Bình Nguyên Lộc bắt đầu tung ra hai cuốn biên khảo
là ''Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam'' và ''Lột Trần Việt Ngữ''.
Đó là kết quả công trình do nhiều năm anh cặm cụi sưu tầm tài liệu và là kết quả
công việc nghiên cứu một cách say mê.
*
*
*
Ai
cũng vậy, hễ cầm bút viết về một nhà văn tiền bối nào, hoặc về một cây bút
trưang thượng nào là đương sự thích tế sống hơn là tế chết người được viết.
Thiệt tình, trong vài bài đăng a Văn, Làng Văn, tôi đã từng tế sống anh Bình
Nguyên Lộc. Tôi có dè đâu chưa đầy một năm, tôi lại phải viết một bài tuang niệm
vong linh anh coi như một nén nhang đốt tiễn đưa anh về bên kia thế giới.
Dù
tôi có thay đôi nhiều lượt, nhiều phen về quan niệm văn chương, nhưng sự nghiệp
văn chương của anh và công trình sưu khảo của anh đã đóng góp cho văn hóa dân
tộc biết bao món trân bảo ngoạn mục. Và khi đọc truyện ''Ký Thác'' của anh, tôi
như sống lai cái thời thanh xuân rực rỡ nhất của tôi, cái thua mà song song với
niềm say mê quyển sách ấy, tôi theo dõi những truyện dài mà anh đã đăng trên các
nhật báo để rồi thực hiện thành hai cuốn tiểu thuyết ''Đò Dọc'' (mà anh đã đoạt
Giải Thưang Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc vào năm 1960) và ''Gieo Gió Gặt
Bão''... Đây là lần đầu tiên các độc giả miền Nam được đọc một tác phẩm văn
chương đúng nghĩa dưới hình thức quyển tiểu thuyết của một tác giả gốc Nam Kỳ.
Vậy tiểu thuyết là gì, nếu không là phản ảnh đời sống của một nhóm nhân vật có
những sợi dây liên hệ tình cảm trói buộc với nhau? Đời sống đó được tác giả nhìn
ngắm, tư duy và phơi bày cho độc giả thư?ng thức qua cái nhân sinh quan cá biệt
của tác giả, qua cả niềm rung cảm của ông ta. Các tác giả như các bà Tú Hoa,
Tùng Long, Lan Phương, các anh Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà,
Trọng Nguyên, Dương Tro La, Ngọc Linh, Sĩ Trung... đa số đều viết truyện tình
cảm gay cấn, éo le với những nhân vật được mô tả sơ sài về mặt tâm lý. Trừ bà Tú
Hoa, bà Lan Phương, các anh Thanh Thủy, Dương Tro La, Ngọc Linh, Sĩ Trung chịu
khó sáng tác, còn các tác giả kia thường phóng tác tiểu thuyết và phim ảnh ngoại
quốc. Bà Tùng Long và anh Ngọc Sơn đa số phóng tác các loại truyện tiểu thuyết
ba xu như Nous Deux, Harlequin. Anh Dương Hà phóng tác các danh phẩm của Emily
Bronte, Margaret Mitchell, nhưng anh Dương lại giản lược những đọan tả cảnh, tả
tình, tả nhân sinh quan. Anh Nguyễn Ngọc Mẫn phóng tác theo các cuốn phim
Ý-đại-lợi thuộc loại thương mãi nổi tiếng ăn khách trong hai thập niên 40, 50
với các tài to Âu Châu hạng B vang danh như Marta Toren, Gianna Maria Canale,
Eleonora Drossi Drago, Yvonne Sanson, Nadia Gray... (nữ), Amedéo Nazzari, Ettore
Manni, Jacques Sernas, Pierre Croissoy... (nam) . Anh Trọng Nguyên phóng tác các
cuốn phim Tàu được hảng Việt Hoa Văn Hóa Hợp Tác Công Ty Điện
ảnh
lồng tiếng hoặc các cuốn Tàu phim do hảng Mỹ Vân và hảng Mỹ Phương chuyển âm. Đó
là các cuốn phim gây tên tuổi chói rực của các tài to Vương Nguyên Long, Vương
Hảo, Nghiêm Tuấn, Hoàng Hà, Bình Phàm, Trương Anh, Trương Dương, Lôi Chấn, Triệu
Lôi, Tăng Giang... (nam), Lý Lệ Hoa, Bạch Quang, Lý Mi, Trần Vân Thường, Hồng
Tuyến Nữ, Tố Thu, Lưu Kỳ, Lưu Luyến, Âu Dương Sa Phi, Bạch Dương, Hạ Mộng, Cát
Lan, Trần Quyên, Trương Trọng Văn... (nữ). Độc giả không tìm được trong tác phẩm
các nhà văn Trọng Nguyên, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà, Ngọc Sơn và bà Tùng Long
một cảnh sống linh động nào, một quan niệm sống nào mới mẻ, tươi rói. Do đó
chúng tra thành những tác phẩm dành cho quần chúng giải trí để rồi họ quên long
trong các cuộc mưu sinh phồn tạp.
Miền Nam vào thời chiến tranh Đông Dương có 3 nữ tiểu thuyết gia, nổi tiếng nhất
là bà Tú Hoa, bà Tùng Long và bà Lan Phương. Bà Tú Hoa trước đó, vào thời tiền
chiến đã đoạt giải Tự Lực Văn Đoàn qua cuốn tiểu thuyết ''Bóng Mơ''. Sau đó, bà
viết them vài cuốn tiểu thuyết nữa cũng khá ăn khách, tuy nhiên không hiểu sao
bắt đầu từ năm 1964, bà ngưng viết luôn. Rồi đó, vào thua cuộc chiến tranh Đông
Dương bùng nổ, sự xuất hiện của bà Tùng Long (gốc người Quảng Nam, nhưng sinh
sống lâu năm trong Nam) qua các quyển ''Lầu Tỉnh Mộng'', ''Nhị Lan'', ''Giang
Sơn Nhà Chồng'' gây náo nhiệt trong quần chúng thuộc giai cấp trung lưu Nam Kỳ
hơn. Nhưng bà Tùng Long vốn ưa văn dĩ tái đạo hơi nhiều, làm cô giáo bất kỳ khi
viết tác phẩm nào nên thét rồi độc giả hơi nhàm. Đúng lúc đó tên tuổi bà Lan
Phương vụt sáng lên. Bà viết rất có ý thức, các nhân vật bà rất người, có tánh
tốt trà trộn tánh xấu. Đặc biệt nhất bà viết về tánh ghen tương ganh ghét của
đàn bà thiên hình vạn trạng nên văn chương bà rất hấp dẫn. Còn cô Hoàng thị Như
Mai qua quyển ''Hai Dòng Con'', cô Thanh Tùng vốn là tác giả các quyển ''Sống
Trên Nhung Lụa'' và ''Một Tâm Hồn Trong Sương Lạnh'', Tô Hằng Nữ Sĩ với quyển
''Ái Tình và Sắc Đẹp'' đều không không phải là đào chính cống, mà là là thứ đào
lộn hột, chu choa ơi, lộn tới hai hột, trời ạ. Cho nên trong một sớm một chiều
họ chuồn êm ra khỏi làng văn trận bút. Cũng như các nhà văn Ngọc Sơn, Thanh
Thủy, Dương Hà, Trọng Nguyên, hay nhóm nhà văn vào thua Nam Bộ Kháng Chiến, ba
nữ sĩ Tú Hoa, Tùng Long, Lan Phương viết văn bằng giọng văn Bắc Nam pha trộn,
nhưng rất mềm dịu du dương với ngôn ngữ dân đô thị lúc viết nhật ký hay lúc viết
thư tâm sự hay thư tình. Thế có nghĩa dù viết văn không có chêm những tiếng nhỉ,
nhé, ư, ạ, eo ơi, thảo nào, thế à... nhưng ngôn ngữ được xo dụng rất trung tính
(neutre), không phảng phất sương khói ngôn ngữ Bắc Kỳ, không vết điêu khắc giọng
văn Huế, không đậm đặc ngôn ngữ Nam Kỳ.
Tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc không kén độc giả bao giờ. Văn phong anh dí dỏm,
tương đối khá Nam Kỳ (thứ ngôn ngữ Nam Kỳ a đô thị). Ý tình anh trong sáng, ít
có dấu vết khách sáo qua nét thêu thùa chạm khắc; thế có nghĩa là ý tình trong
các tác phẩm của anh xuề xòa, bộc trực được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ tượng
thanh lẫn tượng hình. Cái cai ma khả ái đó, chúng ta có thể thấy trong truyện
ngắn ''Ba Con Cáo'',
ở
cảnh nhà cửa
lấn vào đất nghĩa trang.
Người sống còn biết đau lòng khi phải dẫm lên những gò mả còn mới rành rành
(nhiều mộ bia thánh giá đề năm chôn 1951) nhưng ác thay, họ cũng biết lạnh. Cho
nên họ cất nhà trên những nấm đất ấy, nhưng người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ
núp mưa, thế thôi.
Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đã chết rồi,
ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có một vuông đất nhỏ mà cắm
cột gỗ, vậy ông thứ lỗi nhé. Rồi ngày sau tôi hoàn đất lại cho ông vậy mà; trần
gian nầy chỉ là cõi tạm thôi, tranh nhau làm gì.
Ở
truyện ngắn ''Rung Cây Dừa'', những hình ảnh đặc sắc được tác giả vẽ từng
nét rõ vào ấn tượng độc giả:
Giữa những cù lao trong quần đảo Củ Tron là những vuông biển nhỏ im lặng như mặt
hồ. Bơi xuồng trên bao nhiêu là hồ ấy, đi từ đảo nầy qua đảo kia là một thú vui
vô song nhắc nha nguời xưa chu du năm hồ bốn biển, cảnh Từ Thức chèo thuyền chợt
gặp Đào nguyên.
Nhứt là những hòn đảo nầy là những hòn non bộ thiên nhiên mà trong đất liền,
nghe nói, ai cũng thèm nhểu nước miếng.
Đảo đá vôi lồi lõm những gộp đá hình thù kỳ dị, những hang non hiểm hóc và những
động là là mặt nước trông như coa động Đào; gộp đá vôi thì mỗi gộp mỗi màu, trên
ấy mọc lên những lùm cây mà hình dáng cằn cỗi như cổ thụ, và tất cả soi bóng in
hình một cách trung thành, đầu lộn ngược, trên mặt biển đang nhạt màu trời và
phẳng như gương.
Văn phong, bút pháp tượng thanh của Bình Nguyên Lộc có thể được thể hiện ? trang
đầu truyện ngắn ''Lầu 3 Phòng 7'':
Uc...ục...ục... uột...
Quỳnh vội bịt lỗ tai lại. Chàng rất sợ tiếng nước a bồn roa mặt của phòng bên
cạnh. Nó kêu như ai ăn phải của khó tiêu, bị sôi ruột kêu ột ột. Đáng ghê nhứt
là cái tiếng ''uột'' sau cùng, kéo dài bất tận.
Ở
đây có những tiếng động khiếm nhã khác nữa. Đó là tiếng đế giày nện lên gạch,
tiếng nước cầu xí, tiếng đờn vĩ cầm của ai mới học kéo ọ ẹ suớt ngày.
Trong sự nghiệp văn chương của Bình Nguyên Lộc gồm các truyện ngắn lẫn truyện
dài của anh, ngoài việc phân tích tình đời và tâm trạng các nhân vật thì văn
phong anh cũng chỉ tung hoành ngoạn mục a hình thức ngoài 3 đặc tánh ấy mà thôi.
* *
*
Bối cảnh, khí hậu trong đa số tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, phần nhiều khác biệt
với bối cảnh và khí hậu trong các tác phẩm của Sơn Nam. Trừ truyện ngắn ''Rừng
Mắm'' và truyện ngắn ''Rung Cây Dừa'' thì hầu hếu hết truyện dài lẫn truyện
ngắn khác của Bình Nguyên Lộc đều lấy bối cảnh a Biên Hòa, Bình Dương, Lái
Thiêu, Tân Uyên, Đất Bái, tức là miền Đông Bắc của thủ đô Sài Gòn. Còn Sơn Nam
thì lấy bối cảnh miệt Cực Nam đất nước như Chắc Băng, Cà Mau, U Minh Thượng, U
Minh Hạ (các cuốn ''Hương Rừng Cà Mau'', ''Hai Cõi U Minh'', ''Vọc Nước Giỡn
Trăng''), hoặc lấy bối cảnh a chốn hải giác thiên nhai từ mũi Cà Mau trông ra
biển như cuốn ''Vạch Một Chân Trời'', cuốn ''Bà Chúa Hòn''.
Những truyện ngắn viết về quê hương đất nước trong quyển ''Hương Rừng Cà Mau''
của Sơn Nam đều hay, quan niệm sống của tác giả được gán vào miệng của lớp người
khai hoang khẩn đất đều cập nhân tình, vốn sống của tác giả rất phong phú. Nhưng
truyện ngắn ''Rừng Mắm'' của Bình Nguyên Lộc dĩ nhiên dẫu thua các truyện ngắn
ấy về tài liệu sống, thua những cái kỳ bí lạ lùng a trên vùng đất Hậu Giang.
Nhưng nó trội hơn a chỗ gợi cho chúng ta niềm ngậm ngùi thương cảm về đức hy
sinh cao cả của lớp người tiền phong tìm đất mới, a cái dũng mãnh kiên cường của
chí khí dân tộc, a niềm tin rực rỡ của lớp hậu sinh về đất nước mai sau nối thêm
chiều dài trên biển Nam Hải. Nhân vật chánh là cậu trai mới lớn tên Cộc sống với
ông nội và tía má cậu a rạch Ô Heo, một vùng cùng thôn tuyệt tái của đất Nam Kỳ.
Trước khi vào truyện, họ đã đến đây khẩn đất. Cộc lớn lên, đang lúc thể chất
phát triển vì lao tác nên thèm ăn chè và thèm được bậu bạn với một cô gái trang
lứa. Nhưng đất a đây chưa thể trồng mía được nên không có ai làm ra đường. Lại
không có gia đình lân cận nào nên không có một cô gái trang lứa với cậu nên cậu
muốn bỏ đi tìm vùng thổ ngơi nào có chè lẫn có gái. Cậu thấy cây mắm mọc lơ thơ
ven biển cho rằng đó là thứ cây vô tích sự, cho nên ông nội cậu giải bày như
sau:
--
Bờ
biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra bằng mấy ngàn
thước. Phù sa là đất mềm lủng và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưang,
nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp.
Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc
được.
Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
--
Ông với lại tía con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm,
chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là
xoài, mít, dừa, cau.
Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục
cho kẻ khác là con cháu họ hưang.
Con, con sắp được hưang rồi, sao muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sanh
chút ít cho con cháu của con hưang hay sao?
Trước năm 1975, đa số truyện dài của Bình Nguyên Lộc đều lấy bối cảnh
ở
đô thị. Còn Sơn Nam có cuốn ''Hình Bóng Cũ'' chỉ lấy bối cảnh đô thị
ở
phần chót, còn hai phần đầu lấy bối cảnh
ở
miền quê đất nước Hậu Giang. Nhưng riêng quyển ''Chim Quyên Xuống Đất''
thì lấy hoàn toàn cảnh đô thị để dựng nên cái phông cho sự diễn biến câu chuyện.
Rất tiếc, các phê bình gia, các học giả chỉ ca tụng quyển ''Hương Rừng Cà Mau''
của anh mà bỏ rơi hai kiệt tác phẩm ấy. Chính
ở
hai quyển nầy, Sơn Nam mới bừng trổ cái tài hoa dựng truyện và thần trí sáng tạo
của mình a những chất liệu dựng truyện không đặc sắc. Ở đây, độc giả mới thương
cảm lớp thanh niên bỏ học để tham gia vào lịch sử
trong cuộc chống Pháp. Rồi sau Hiệp Định Genève, họ sống bơ vơ lạc loài vì lỡ
vận ở
Miền Nam Việt Nam bằng nghề cầm bút; cuộc mưu sinh không lóe lên một viễn ảnh
tươi sáng, một tương lai đảm bảo nào. Họ ngơ ngác trước cuộc đời dâu bể, trước
khúc quanh lịch so, trước thế sự thăng trầm. Hai cuốn này vẫn là hai cột trụ
trong văn nghiệp của Sơn Nam, ăn đứt các truyện dài của Bình Nguyên Lộc. Vì sao?
Những tác phẩm truyện dài của Bình Nguyên Lộc đa số là truyện tâm lý ái tình,
không phản ảnh đến biến chuyển của thời cuộc, của thế hệ lớp người trưang thành
trong cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, không vẽ được các bức
tranh xã hội trong các thập niên 50, 60 và 70. Ngoài ra, nhân vật chính trong
hai quyển truyện dài của Sơn Nam bị guồng máy vận mệnh tổ quốc đẩy đưa vào cảnh
ngộ thương tâm, lỡ khóc lỡ cười; trong khi đó những nhân vật của Bình Nguyên Lộc
có nếp sống vật chất đầy đủ hơn, nên tâm cảnh của họ không bị xáo trộn nhiều về
các tấn thảm kịch trong cuộc sinh hoạt chung quanh họ. Điều dễ hiểu là Sơn Nam
đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp, có lý tưang về quốc gia dân tộc. Dù
anh lầm đường lạc lối theo bọn Việt Minh, dù lý tưang anh có đặt sai chỗ chăng
nữa, nhưng cuộc đời lăn lóc của anh bao năm a khu 9 (một mật khu vùng Hậu Giang
của bọn Việt Minh) cũng tạo cho anh nhiều cơ hội sống chung với dân quê, sống
trong vùng tân bồi miền Cực Nam đất nước. Anh có thể suy nghĩ nhiều những điều
mà những kẻ có cuộc sống an phận thủ thường a đô thị trong đó có Bình nguyên Lộc
không có điều kiện lẫn cơ hội nghĩ ra.
Chọn đô thị làm bối cảnh cho truyện ngắn, Bình Nguyên Lộc thêm một lần nữa thành
công về phuơng diện nghệ thuật
ở
truyện ngắn ''Ba Con Cáo''. Đây là câu truyện xảy ra tại nghĩa trang hoang vu,
có nhiều vài kẻ lác đác cất chòi là để cư ngụ. Trong số đó có một người đàn ông
trốn pháp luật, một ả gái điếm trốn lính kiểm tục. Đó là hai con cáo theo nghĩa
bóng vì họ khôn lanh quỷ quyệt, cái quỷ quyệt đó do xã hôi và hoàn cảnh phong
trần dày dạn của họ tạo ra. Kẻ thứ ba là con cáo thứ thật, chuyên bắt gà vịt
trong xóm và đào hang
ở
gần chỗ của hắn ta trú ngụ. Vì ở
chỗ tha ma mộ địa, hắn ta và y thị tỏ bày tâm sự với nhau. Còn con cáo vì được
hắn ta đuổi chó săn để cứu sống nên nó tỏ ra thân thiện với họ. Nhưng họ không
dám chui ra khỏi nghĩa trang để kiếm sống. Quá đói lòng, hắn ta giết con cáo
thứ thiệt để cùng y thị đỡ dạ. Nhưng rồi vì không đào ra được cái ăn, cho nên y
thị đi tố cáo hắn để nhận tiền thư?ng. Tuy nhiên, khi y thị tra về trơ trọi một
mình tại nghĩa trang, nhìn chỗ cả hai nằm thức thâu đêm để tâm sự với nhau, y
thị bỗng cảm thấy không khí sao mà quá quạnh quẽ thê lương. Cùng lúc đó, thiên
lương trong sáng tra về với y thị:
Chị ôm mặt khóc òa, rồi lẩm bẩm van vái lầm thầm:
--
Trời Phật ơi, Chúa ơi, tha tội cho tôi, ngày mai tôi ra khỏi chỗ này và ra khỏi
vực đen của đời tôi nữa.
Gặp phút xuất thần Bình Nguyên Lộc viết khá nhiều truyện ngắn tuy không bằng
''Rừng Mắm'' và ''Ba Con Cáo'', nhưng rất chứa chan tình người và thắp sáng
thiên lương nhân loại và niềm tin yêu đối với cuộc đời. Như tôi đã nói, anh
thành công về truyện ngắn hơn thành công
ở
truyện dài. Nhưng chính những truyện dài tâm lý ái tình của anh dù có giảm thiểu
phẩm chất nghệ thuật ít nhiều, nhưng chúng lại hợp với cảm quan của giới độc giả
thích dùng văn chương để giải trí; bai đó mà chúng đuợc họ ái mộ nồng nhiệt. Cho
nên bất cứ quyển truyện dài nào của anh dù chưa được xuất bản mà chỉ được đăng
từng ngày trên nhật báo cũng thu hút độc giả mãnh liệt. Cho đến nỗi dân
ở
Lục Tỉnh mỗi ngày phải ra bến xe đò, đợi xe cha báo về, chộp lấy bào nào có đăng
truyện theo thể thức feuilleton của Bình guyên Lộc đọc trước cho sốt dẻo, trước
khi đọc các tiết mục khác.
Như thế, Sơn Nam chỉ khua động trên văn đàn và thắp sáng niềm ái mộ của giới
sành điệu trong khi đó Bình Nguyên Lộc đuợc mọi giới nhiệt thành ủng hộ và chiêm
ngưỡng.
* *
*
Kể
từ tháng 7 năm 1987 tôi viết bài ''Tổng Quan Về Sự Nghiệp Văn Chương của Bình
Nguyên Lộc'' cho tới nay (vào cuối tháng 8 dương lịch năm 2007) thì đã hơn hai
mươi năm trôi qua. Nhìn trước ngoảnh sau, tôi nhận thấy một điều: về phương diện
sáng tác, Bình Nguyên Lộc được nhắc nh? nhiều qua truyện dài ''Đò Dọc'' cùng hai
truyện ngắn ''Rừng Mắm'' và ''Ba Con Cáo''. Nhưng ''Đò Dọc'' thật sự chưa phải
là cái tinh túy trong số lượng phồn thịnh của tác phẩm anh. Nó chỉ là một chai
lọ thủy tinh được Giải Thưởng
Văn Chương Nghệ Thuật Toàn Quốc như ánh mặt trời soi rọi đến nên mới chiếu sáng
hơn các truyện dài khác được tượng trưng qua các món ngoạn hảo bằng pha lê quý
giá hơn. Tập truyện ''Nhốt Gió'' của anh là con chim én báo tin xuân. Còn tập
truyện ''Ký Thác'' trong đó có hai truyện ngắn ''Rừng Mắm'' và ''Ba Con Cáo''
mới là mùa xuân huy hoàng thật sự trong văn chương của anh. Hơn thế nữa, ''Rừng
Mắm'' đã là một nén nhang tạ ơn công lao người dựng đất, làm cho lớp hậu sinh
chúng ta cảm khái hơn.
Bình Nguyên Lộc viết văn bằng cái trong sáng của thiên lương. Anh không làm dáng
trong bút pháp và văn phong nhiều (trừ những cuộc đối thoại của những kẻ tân
học). Anh không muốn bày trò rắc rối tối tăm trong cách cấu trúc tác phẩm và
cách dàn xếp nội dung của nó. Cho nên anh không cho độc giả có thời giờ và cơ
hội để suy nghiệm những gì anh viết. Anh cứ phóng bút tới tấp một cách thống
khoái. Anh cứ giải thích tuồn tuột và xôn xao những điều ẩn mật của tác phẩm
mình. Anh không cho độc giả tìm gặp cái ý tình thâm trầm cần phải có của một cây
bút có ý thức về thẩm mỹ. Anh không tạo đuợc cái mênh mông thăm thẳm của câu
truyện. Điều này, anh chứng tỏ cái tánh hồn nhiên khả ái của người Nam Kỳ nói
chung, cái bộc trực của đa số cây bút gốc Nam Kỳ nói riêng.
Lại nữa trong ba tập truyện ''Mưa Thu Nhớ Tằm'', ''Tình Đất'' và ''Cuống Rún
Chưa Lìa'', Bình Nguyên Lộc cứ kêu gào nỗi nhớ quê, cứ ó ré tình quê cha đất tổ.
Sự khơi dậy cảm xúc bị nhiều lượt lắm phen đem ra triễn lãm trưng bày một cách
suồng sã hớ hênh như thế đã lần hồi nếu không làm tắt nghẹn thì cũng chận ngăn
ít nhiều mạch cảm xúc của độc giả đi. Nếu anh bỏ bớt cái tánh chất nồng nàn đến
chỗ sa đà thái quá của người Nam Kỳ đi thì sự truyền cảm sâu đậm hơn, thấm đượm
hơn.
*
*
*
Trong cuốn ''Văn học Miền Nam Tổng Quan'', Võ Phiến có viết:
Cá
tính văn học miền Nam là điều không thể phủ nhận, và nó rất hấp dẫn. Sự phát huy
bản sắc miền Nam là một đóng góp thật quan trọng vào nền văn học Việt Nam. Đâu
có phải chuyện gì xấu xa đâu mà vội khỏa lấp.
Về
sắc thái đặc biệt, điều nhận thấy trước nhất là những từ ngữ địa phương, những
cách nói riêng của địa phương. Từ ngữ riêng của miền Nam thật nhiều, càng ngày
càng lộ ra nhiều. Trước 1954, dĩ nhiên nó vẫn phong phú, nhưng nó không hay xuất
hiện trên sách báo, thậm chí trong tự điển là nơi lẽ ra phải tập trung đầy đủ
tiếng nói dân tộc, cũng không có được bao nhiêu tiếng địa phương miền Nam. Lúc
bấy giờ địa vị của tiếng nói miền Nam hãy còn khiêm tốn, ngay những học giả
người miền Nam vẫn còn ngần ngại chưa muốn đưa những tiếng cà tàn, cà ràn, chiếc
nóp, lục cụ v.v... vào sách. Sau nầy mỗi lúc các ông Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên
mới trình ra, tuôn vô số, chừng ấy mới biết là chúng ta còn có cả một kho vô tận
chữ nghĩa mấy trăm năm chưa xài đến! Chuyện đó thì ''mắc mớ'' gì tới tui? Tui
thì ''kể số'' gì? Tui có ăn nhậu gì ''trỏng'' đâu nà? Ôi nghe lạ mà vui biết bao
nhiêu!
Vào thời tiền chiến, trong các nhà văn nhà thơ gốc miền Nam đã chối bỏ ngôn ngữ
miền Nam như Đông Hồ, Mộng Tuyết thì đã có Nguyễn Chách Sắt, Lê Hoằng Mưu (bút
hiệu Mộng Huê Lầu), Hồ Biểu Chánh. Lại thêm một vương tôn gốc Huế là Nguyễn Phúc
B?u Đình vì sống trong Nam đã lâu và lấy vợ người tỉnh Gò Công nên khi viết hai
quyển ''Cậu Tám Lọ'' và ''Mảnh Trăng Thu'' bằng giọng Nam và ngôn ngữ miền Nam
đặc sệt. Hồ Biểu Chánh là một tiếng nói lạc lõng, lẻ loi
ở
ngoài lề văn học sử,
tác phẩm của ông chỉ được giới bình dân
ở
miền Nam đọc mà thôi. Nhưng nhà phê bình Vũ Ngọc Phan là người sáng suốt. Khi
thực hiện bộ sách ''Nhà Văn Hiện Đại'' liền dành cho Hồ tiên sinh một chương khá
tỉ mỉ với lời nhận xét ưu ái qua cuốn ''Cha Con Nghĩa Nặng''. Trong khi đó, ông
Vũ gạt những bài du ký của Đông Hồ, những bài tùy bút của bà Mộng Tuyết và bà
Mai Huỳnh Hoa (lấy bút hiệu Quỳnh Hoa) qua một bên. Có lẽ Vũ tiền bối bị dị ứng
với lối ăn điệu đà thêu hoa dệt gấm của họ chăng? Bà Quỳnh Hoa là cháu kêu nhà
chí sĩ Nguyễn Đình Chiểu bằng ông cố, kêu nữ sĩ Sương Nguyệt Anh băng bà ngoại.
Bà là vợ nhà cách mạng Đệ tứ Cộng Sản Phan văn Hùm và cũng là mẹ ruột của kịch
tác gia Phan Tùng Mai.
Phải đợi đến sự xuất hiện của Bình Nguyên Lộc trên văn đàn, thì giọng văn miền
Nam, ngôn ngữ miền Nam mới được chiếu cố khá nồng nhiệt. Nồng độ nhiệt thành
càng tăng thêm qua các tác phẩm của Sơn Nam và của nhà văn nữ Vân Trang tác giả
tập truyện ''Một Lá Thư Tình''). Bà Vân Trang vào năm 1957 tới năm 1965 là một
cộng tác viên cần mẫn trong ban biên tập của tạp san Bách Khoa, Mai. Đến khi có
sự xuất hiện của Lê Xuyên trên các nhật báo, qua loạt tiểu thuyết đăng từng
ngày như ''Vợ Thầy Hương'', ''Chú Tư Cầu'', ''Rặng Trâm Bầu'', ''Kinh Cầu
Muống'', ''Xinh'', ''Nguyệt Đồng Xoài'' v.v... thì ngôn ngữ miền Nam được đương
sự khai thác sung mãn và lộng lẫy. Trong nhóm nhà văn trẻ a bán thập niên cuối
của thập niên 60, chỉ có Nguyễn thị Thụy Vũ gốc miền Nam viết văn miền Nam khá
tới. Trong khi đó, Triệu Triệu, Tiêu Kim Thủy, Hàn Song Thanh, Dương Tro La,
Trương Đạm Thủy, Hoài Điệp To, Phương Triều thì viết văn theo kiểu Bắc Nam lẩn
lộn, rau muống trộn giá sống, mắm tôm pha mắm sặt.
Vậy thì Hồ Biểu Chánh là kẻ làm cho độc giả bắt đầu yêu thích lối viết văn miền
Nam, nhưng phải đợi 20, 30 năm sau, chính Bình Nguyên Lộc không cần mang cờ
quạt, biểu ngữ , nhưng vẫn làm cuộc hành trình vào ngôn ngữ miền Nam, gây nhiều
tiếng vang tốt đẹp và gieo niềm tin cho người cầm bút miền Nam để viết văn bằng
ngôn ngữ, bằng giọng điệu miền Nam.
Vậy thì hễ nói tới ngôn ngữ và văn chương miền Nam là phải nghĩ ngay tới Bình
Nguyên Lộc cũng như nói tới sóng thì phải nghĩ ngay tới nước: Bình Nguyên Lộc là
sóng, cõi văn chương miền Nam là nước vậy.
Bình Nguyên Lộc suốt 20 năm văn học miền Nam (1954 - 1975) đã lôi kéo (bằng ảnh
hưởng
của văn chương anh) một số người cầm bút miền Nam viết văn rặc giọng điệu và
ngôn ngữ miền Nam như Sơn Nam, Lê Xuyên, Huyền Phong Tử
(tác giả quyển tiều thuyết ''Ông Xã Hòa''), hai bà Vân Trang và Nguyễn thị Thụy
Vũ. Anh còn quyến rũ nhiều nhà văn gốc Bắc như Nguyễn Hoạt, Vũ Bằng, Thanh Tâm
Tuyền, Nhật Tiến, Viên Linh, Nguyễn Thụy Long, những nhà văn gốc Trung như Võ
Phiến, Nguyễn văn Xuân, Phan Du viết văn theo phong cách văn miền Nam. Trong
số này thì có Võ Phién, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh và Phạm Hồ viết rất vững
vàng. Còn những nguời khác thì viết ba trật bốn vuột, nhưng cũng tếu đậm như các
cây bút Nam Kỳ chính cống, cũng toát ra cái phong thái hào sảng, cái vẻ phơi
phới thật quyến rũ. Thật tình, Bình Nguyên Lộc không bao giờ cổ võ, hô hào ngôn
ngữ miền Nam gì ráo. Anh cũng chẳng xúi giục, dụ dỗ ai hết. Nhưng văn chương
miền Nam dưới ngòi bút anh và nhất là của Lê Xuyên rất tượng hình, tượng thanh,
duyên dáng lạ kỳ, dễ thương độc đáo dễ lôi cuốn các cây bút miền Bắc có lòng với
ngôn ngữ miền Nam.
Trong cuốn ''Văn học Miền Nam tổng quan'', nhà văn Võ Phiến có viết:
... Có thể nói tất cả sáng tác của Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh, Sơn Nam, Vũ Bình,
Nguyễn thị Thụy Vũ đều chú trọng vào nếp sống, vào xã hội, phong tục miền Nam.
Và đó là cả một lãnh vực tân kỳ phong phú. Chúng ta đã có miền Nam từ ba trăm
năm, nhưng người Việt miền Bắc miền Trung mấy ai biết về đời sống trong Nam
trước ''Rừng Mắm'' của Bình Nguyên Lộc, ''Hương Rừng Cà Mau'' của Sơn Nam. Những
sáng tác như thế ma ra trước con mắt của đồng bào khắp nước một thế giới vừa
thân yêu, vừa mới lạ biết chừng nào. (trang 32)
Viết về đất nước miền Nam, bằng ngôn ngữ văn chương miền Nam, Bình Nguyên Lộc
lẫn Sơn Nam viết bằng cả tâm tư. Động lực nào thúc đẩy họ?
Hãy nghe Võ Phiến cũng trong cuốn ''Văn Học Miền Nam Tổng Quan'' phân trần như
sau:
... Nhất là những tác giả như Bình Nguyên Lộc như Sơn Nam, vốn tha thiết với quê
hương rất mực. Một vị ''chuyên trị'' miền Đông, một vị ''chuyên trị'' miền Tây,
một vị chiếm lĩnh Tiền Giang, một vị Hậu Giang, họ đi sâu vào cuộc sống, vào
lịch so địa phương, phát huy cái hay cái lạ làm cho miền Nam càng ngày càng bày
ra những cái quyến rũ không ngờ. Những ''Đò Dọc'', ''Rừng Mắm'', ''Ba Con Cáo'',
''Hương Rừng Cà Mau, ''Thổ Ngơi Đồng Nai'', ''Tìm Hiểu Đất Hậu Giang'' v.v...
của họ đã hay, sa dĩ càng hay là vì sự thưang thức đầy cảm tính và khích lệ của
đồng nghiệp Trung và Bắc... (trang 34)
Cuộc nội chiến Quốc Cộng đã giới hạn tầm mắt của thị dân, đã đưa một số trưang
giả chốn hương thôn ra định cư a các thành phố, đã đóng khung cõi văn chương đa
số người cầm bút. Những nhà văn trang lứa với bút giả như Trần Hoài Thư, Y Uyên,
Nguyên Vũ chỉ viết thôn quê qua các bối cảnh tiền đồn, những vùng xôi đậu, những
nơi có xảy ra các cuộc hành quân, các cuộc chạm súng. Cái thôn quên thuần túy bị
''chiến tranh hóa'', bị ''thời cuộc hóa'' nên mất mát nhiều bản sắc nguyên sơ.
Chỉ có những người cùng lớp thế hệ với Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên và có
óc quan sát tinh nhuệ và có rung cảm sâu sắc như họ mới viết được cảnh hương
thôn trên dải đất Nam Kỳ Lục Tỉnh vào thua cựu trào va nhất là vào thời tiền
chiến mà thôi.
Những lớp nhà văn hậu sinh của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Lê Xuyên tức là những
nguời gốc miền Nam thì chỉ có Xuân Vũ, Hồ Trường An là có thể lấy bối cảnh vào
thời tiền chiến. Vào thời tiền chiến, Xuân Vũ đã là một cậu trai mới lớn, trí óc
có thể thu nhận những gì mà mắt thắy tai nghe đang hoạt diễn trước mắt. Hồ
Trường An phải cậy nhờ sách vở,
những câu chuyện kể của các bậc trưởng
thượng vì vào năm 1945 khi ngòi loa chiến tranh vừa ngún cháy toàn cõi Đông
Dương thi đương sự chỉ có 5 tuổi. Nhưng khi vừa vào trung học, đương sự ham học
hỏi ở
các nông dân lão thành, a các khách thương hồ lịch duyệt, nhất lại nhờ ông thân
sinh Mặc Khải mà đương sự biết mọi cơ cấu hành chánh trong làng. Thua ấy trong
mỗi làng có ban Hương Chức Hội Tề gồm 12 hai vị: Hương cả, hương chủ, hương sư,
hương trưang, hương chánh, hương giáo, hương bộ, xã trưởng,
huơng quản, hương thân, hương hào và chánh lục bộ. Các ông kỳ lão từ hương cả
cho tới hương chánh là đại biểu tiếng nói của dân chúng trong làng. Họ chủ tọa
các buổi lễ cúng đình, cùng lễ kỳ yên (tức là lễ cầu an). Còn hương giáo thì
phân xử
việc kiện cáo nho nhỏ xảy ra trong làng, trong xã, trong xóm. Hương quản coi
việc an ninh. Chánh lục bộ coi sổ hộ tịch: làm khai sanh, làm giấy khai to
v.v... cho dân làng, trước khi di chuyển công văn ra tổng, huyện, phủ, tỉnh. Lại
có thêm thầy thôn chuyên lo việc công nho (tức là ngân khoản tài chánh trong ban
Hương Chức Hội Tề). Ngoài ra, ban này cắt đặt thêm các ông hương nhứt, hương
nhì, hương việc để lo sắp đặt trà rượu, tiệc tùng khi có quan trên tới viếng.
Ông hương kiểm chuyên kiểm kê tài sản, ruộng vườn của làng, rồi giao tiền thu
hoạch cho thầy thôn. Ông huơng cúng chuyên việc mua sắm thực phẩm để dọn tiệc
cúng đình, cúng lễ kỳ yên: mua vài con heo để quay và nấu cháo lòng, mua nếp để
dọn hàng chục mâm xôi. Ngoài ra ông ta còn lựa hàng chục chình rượu và hàng chục
thứ linh tinh khác cho chú hương bếp điều khiển các phụ nữ trong làng nấu nướng.
Làng thôn thời tiền chiến bước sang thời Đệ nhất Cộng Hòa biến thành xã ấp. Còn
ban Hương Chức Hội Tề biến thành Hội Đồng Xã. Vào thời Đệ nhị Cọng Hòa, trên các
tuyến đường quốc lộ, hưong lộ, các chòi canh thay thế đồn bót Nghĩa quân. Các
quận có chi y tế, chi Thông Tin, chi bưu điện. Duy đình làng vẫn còn đó. Nhà
việc làng dành cho ban Hương Chức Hội Tề trước kia thì giờ đấy tra thanh trụ sa
Hội Đồng Xã. Mỗi năm vẫn có lễ cúng đình, rước sắc thần từ nhà việc làng qua
đình bằng kiệu bông có hương án long trọng.
Ở
hải ngoại, các cây bút miền Nam viết truyện miền Nam như Nguyễn văn Sâm, Võ Kỳ
Điền, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Đức Lập, Phan thị Trọng Tuyến, chỉ viết về cảnh
sống
ở
tỉnh lỵ hoặc
ở
Thủ đô Sài Gòn. Nguyễn thị Ngọc Nhung có thể lấn sâu ngòi bút vào thời chiến
tranh Đông Dương, chị viết về những cuộc xung đột giữa Hoà Hảo và Việt Minh dọc
theo sông Hàm Luông. Kiệt Tấn viết cuốn truyện dài ''Lớp Lớp Phù Sa'' a miệt
Hậu Giang, chỉ kể chuyện sa đà mà không viết nổi khung cảnh cuộc đất thấm phèn
chua cùng con cá lá rau a đó. Ngô Nguyên Dũng viết về cuộc chiến tranh giữa Pháp
và Việt Minh
ở
miền Tiền Giang đất nước Nam Kỳ mà không nói tới mặt trận Cao Hoà Bình (Cao Đài,
Hòa Hảo, Bình Xuyên). Bác sĩ Huỳnh Hữu
Cữu
viết về cảnh thôn quê khi còn thơ ấu, nhưng sự thu thập kiến thức về khung cảnh
địa phuơng không được nhiều vì thua ấy, anh còn bé quá, óc quan sát chưa nẩy na.
Nguyễn văn Ba qua cuốn ''Làm Mai, Lãnh Nợ, Gác Cu, Cầm Chầu'' và Phùng Nhân qua
truyện dài ''Vàm Cả Cao'' chỉ viết miền quê Tiền Giang vào hai thời Cộng Hòa.
Trần Long Hồ với bộ trường giang ''Dung Thân'' nói về cuộc đổi đời ? miệt Hậu
Giang sau cơn quốc nạn 30/4/1975. Sĩ Liêm với hai tập truyện ''Tình Nghĩa Thầy
Trò'', ''Những Mảnh Đời Chắp Vá'' thì viết về nếp sinh hoạt
ở
Thủ đô Sài Gòn sau ngày Việt Cộng bạo chiếm miền Nam, đôi khi đương sự viết về
miền quê ngoại của mình nằm bên sông Vàm Cỏ Tây.
Những kẻ sinh ra vào 5 năm chót của thập niên 30 tra về sau thật sự đánh mất
thôn quê nguyên sơ, thuần túy huống hồ là những nhà văn sinh vào thập niên 50.
Dù không viết được một thôn quê tiền chiến, song ngôn ngữ miền Nam, văn chương
theo giọng điệu miền Nam mà Bình Nguyên Lộc khai công dựng lại trên cái nền tảng
của Hồ Biểu Chánh đã hướng dẫn các cây bút gốc miền Nam a hải ngoại kết thành
một lực lượng hùng hậu. Xin kể thêm các nữ sĩ gốc Nam Kỳ Lục Tỉnh như Song Thi
với tạp bút ''Dỗ Giấc Đêm Dài'', Hoàng Dược Thảo với quyển ''Tiểu Thư'', Hồng
Lan với tập truyện ''Như Khói Lam Buồn'', Dư thị Diễm Buồn với các quyển tiểu
thuyết ''Chân Trời Hạnh Phúc'', ''Trong Lâu Đải Kỷ Niệm'', ''Xa Bến Thiên
Đường'', ''Vén Màn Sương Mộng'', ''Ngoài Ngưỡng Của Chiêm Bao'', ''Một Góc Trời
Thôn Dã''.., Việt Dương Nhân với hai tập truyện ''Gió Xoay Chiều''và ''Đàn
Chim Việt'' v. v...
Đa
số những kẻ viết về Bình Nguyên Lộc chỉ nói tới sự nghiệp văn chương và sự
nghiệp biên khảo của anh rất nhiều, nhưng họ không nói tới (hoặc nói rất ít
ảnh hưởng
của anh trong công việc viết văn bằng giọng điệu ngôn ngữ miền Nam. Thật là một
sự thiếu sót! Cái ảnh hưởng
ấy vẫn còn theo chân một số người cầm bút gốc miền Nam di tản ra bốn phương
trời hải ngoại. Văn chương của họ thao thức mãi trong cõi thưang ngoạn của độc
giả kiều bào đã từng sống
ở
Miền Nam Việt Nam từ sông Bến Hải tra vào (gồm người Bắc di cư và người Nam bản
xứ). Văn chương
ấy kéo dài mãi trong niềm khao khát những kẻ yêu mến một miền đất nước tự do
dân chủ xa xưa, nơi ấy nồng ấm tình người, phong phú con cá lá rau, tràn đìa
món ngọt ngọt bùi bùi thấm đượm quốc túy quốc hồn .Và có quá ngắm lắm hay
không vì nó chỉ kéo dài trên 20 năm mà thôi?